VIÊM TỦY RĂNG, PHÂN LOẠI VÀ TRIỆU CHỨNG

VIÊM TỦY RĂNG, PHÂN LOẠI VÀ TRIỆU CHỨNG

Sâu răng phá hủy men răng và các tổ chức cứng khác, làm tủy răng lộ ra ngoài, dễ bị vi khuẩn tấn công gây ra viêm tủy răng. Viêm tủy răng gồm các dạng viêm tủy có phục hồi, viêm tủy không phục hồi và viêm tủy hoại tử.

1. Viêm tuỷ có hồi phục (T1) (xung huyết tuỷ)

Triệu chứng cơ năng: Xung huyết tuỷ là do tăng khối lượng tuần hoàn ở tuỷ, gây nên hiện tượng tắc nghẽn mạch. Xung huyết tuỷ rất nhạy cảm với kích thích của nhiệt độ lạnh. Thường sau kích thích lạnh, chua, ngọt vẫn còn buốt một vài phút, hoặc có cơn đau tự nhiên ngắn, khoảng cách giữa các cơn thưa.

Dấu hiệu thực thể: Khám thường thấy tổn thương sâu răng, lõm hình chêm hoặc thiểu sản… nhưng tổn thương chưa vào đến buồng tuỷ, kích thước lỗ sâu thường lớn, màu sắc của răng bình thường, gõ ngang đau nhẹ, chụp phim vùng cuống răng thấy bình thường, thử nghiệm lạnh dương tính. Ngưỡng kích thích điện thấp hơn bình thường (bình thường từ 2-6 ma) đã có đáp ứng.

Chẩn đoán phân biệt với viêm tuỷ không hồi phục: cơn đau tự nhiên kéo dài 15 phút đến hàng giờ, đau nhiều về đêm, đau lan 1/2 mặt, khoảng cách giữa các cơn ngắn. Lỗ sâu to, có thể nhìn thấy ánh tuỷ hồng qua lớp ngà răng, gõ ngang đau hơn gõ dọc.

2. Viêm tuỷ không hồi phục (T2)

Triệu chứng cơ năng: Viêm tuỷ thanh tơ huyết là một viêm cấp của tuỷ răng. Triệu chứng thì tương tự như xung huyết tuỷ nhưng tính chất đau và mức độ đau thì có khác.

Cơn đau thường xuất hiện đột ngột và mất đi cũng đột ngột. Cơn đau thường kéo dài 15-20 phút đến hàng giờ. Cơn đau vẫn còn tồn tại ngay cả khi hết kích thích hoặc không cần có kích thích nào. Cơn đau thường dữ dội làm bệnh nhân rất khó chịu, không ăn ngủ được, đau có thể lan tới răng khác.

Nhiều khi bệnh nhân không nhận thấy rõ ràng thực tế đau ở răng nào trên hàm, đau có thể lan cả hai hàm hay 1/2 nửa mặt, 1/2 đầu. Khoảng cách giữa các cơn đau gần.

Trong một ngày xuất hiện nhiều cơn đau, bệnh nhân đau nhiều về đêm, đau tăng lên khi ở tư thế dốc đầu. Đôi khi có bệnh nhân gặp tổn thương ở hàm dưới, nhưng bệnh nhân lại kêu đau răng hàm trên và ngược lại.

Dấu hiệu thực thể: Việc khám thường thấy tổn thương sâu răng lớn và sâu, đôi khi làm sạch các thức ăn, ngà mủn trong lỗ sâu, có thể thấy ánh hồng của tuỷ qua một lớp ngà mủn hay một điểm hở tuỷ. Nếu không có tổn thương sâu răng phải tìm tổn thương ở tổ chức cứng không do sâu răng như lõm hình chêm hay mòn răng.

Tuy nhiên, một số trường hợp có thể không thấy những tổn thương thông thường trên mà vẫn có những dấu hiệu của viêm tuỷ cấp, cần phải tìm nguyên nhân khác như viêm quanh răng ở giai đoạn II, III, có thể gây viêm tuỷ ngược dòng. Nếu không thấy có tổn thương nghi ngờ nào khác cần phải tìm dấu hiệu của rạn, nứt răng, nhất là ở độ tuổi từ trung niên trở lên.

Một điểm đáng lưu ý nữa là khi khám không thấy các tổn thương trên thì phải quan tâm tìm các lỗ sâu ở mặt bên, nhất là ở lứa tuổi trên 50 cần có sự phối hợp của phim X-quang răng.

3. Tuỷ hoại tử (T3)

Đây là hậu quả của quá trình viêm nhiễm, thoái hoá trong thời gian dài ở tuỷ răng, do nhiều nguyên nhân khác nhau, có thể do sâu răng các dịch của chất hàn thừa, tuỷ hở, sang chấn, lõm hình chêm…

Triệu chứng cơ năng: Bệnh nhân không có dấu hiệu lâm sàng, thường không có đáp ứng với nhiệt độ lạnh nhưng có thể có đáp ứng với nhiệt độ nóng do sản sinh ra hơi tạo áp lực lên đầu mút dây thần kinh ở cuống răng.

Dấu hiệu thực thể: Răng đổi màu rõ, lỗ sâu thường lớn, có khi thông với buồng tuỷ. Nếu không có tổn thương sâu cần tìm tổn thương không do sâu răng, như núm phụ, lõm hình chêm, mòn răng, hỏi tiền sử sang chấn răng v.v… Qua X quang, dây chằng quanh cuống giãn rộng.

Tham khảo: Tìm hiểu thêm thông tin và cách điều trị tủy tại đây.


Mọi thắc mắc hoặc đặt lịch dịch vụ vui lòng liên hệ để được hỗ trợ và giải đáp.

NHA KHOA THẨM MỸ CÔNG NGHỆ CAO NEW SMILE LUXURY

ADD1: 85 Bùi Thị Xuân, Hai Bà Trưng, Hà Nội

ADD2: 81 Lê Văn Lương, Thanh Xuân, Hà Nội

Hotline: 0778 881 885 – 0947 881 885

Bình luận của bạn


ĐĂNG KÝ TƯ VẤN
Hotline: 0947.881.885
ĐẶT LỊCH KHÁM
Gọi Ngay
Chỉ đường